Giám sát trọng điểm giao dịch ngân hàng bất thường: Hướng dẫn 2025

Giám sát trọng điểm giao dịch ngân hàng bất thường: Hướng dẫn 2025

🎧
🎧 Nghe bài viết




Người nộp thuế thực hiện giao dịch ngân hàng có dấu hiệu bất thường và liên quan tới trốn thuế sẽ bị giám sát trọng điểm theo Điều 9 Thông tư 94/2026/TT‑BTC.

Giám sát trọng điểm đối với người nộp thuế có giao dịch ngân hàng bất thường: khi nào và vì sao?

Tóm tắt: Người nộp thuế thực hiện giao dịch ngân hàng có dấu hiệu bất thường và liên quan tới trốn thuế sẽ bị giám sát trọng điểm theo Điều 9 Thông tư 94/2026/TT‑BTC. Cơ quan thuế sẽ thu thập, phân tích thông tin từ nhiều nguồn, phân loại mức độ rủi ro (cao, trung bình, thấp) và áp dụng các biện pháp quản lý như ngừng sử dụng hóa đơn điện tử hoặc kiểm tra mẫu. Quy trình và tiêu chí chi tiết được quy định trong Thông tư 94/2026, giúp nâng cao hiệu quả quản lý thuế tại Việt Nam.

Doanh nghiệp và cá nhân thường băn khoăn: “Nếu có giao dịch ngân hàng bất thường, mình có bị cơ quan thuế giám sát trọng điểm không?” Câu trả lời là có. Theo Điều 9 Thông tư 94/2026/TT-BTC (Nguồn: Bộ Tài chính, Thông tư 94/2026/TT-BTC) về kiểm soát, giám sát trọng điểm đối với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, người nộp thuế thực hiện các giao dịch qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền, có liên quan đến trốn thuế, gian lận thuế, thuộc diện bị kiểm soát và giám sát trọng điểm về thuế. Cơ chế này giúp cơ quan thuế phát hiện, ngăn ngừa rủi ro thuế kịp thời thay vì chỉ xử lý sau khi vi phạm đã xảy ra. Với doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn quận Long Biên, Hà Nội, việc nắm rõ các tiêu chí dưới đây ngay từ đầu giúp chủ động rà soát dòng tiền và hồ sơ trước khi cơ quan thuế vào cuộc.

Infographic: Giám sát trọng điểm giao dịch ngân hàng bất thường: Hướng dẫn 2025
Infographic — Giám sát trọng điểm giao dịch ngân hàng bất thường: Hướng dẫn 2025

Các dấu hiệu khiến người nộp thuế thuộc diện giám sát trọng điểm

Khoản 1 Điều 9 Thông tư 94/2026/TT-BTC xác định người nộp thuế thuộc trường hợp giám sát trọng điểm về thuế khi có một trong các dấu hiệu sau:

  • a) Thực hiện các giao dịch qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền có liên quan đến trốn thuế, gian lận thuế.
  • b) Người nộp thuế hoặc người đại diện hợp pháp của người nộp thuế bị khởi tố về các hành vi vi phạm về thuế, hóa đơn, chứng từ.
  • c) Có dấu hiệu rủi ro cao về thuế thuộc chuyên đề trọng điểm, hoặc qua thu thập thông tin từ công tác quản lý của cơ quan thuế mà thấy cần giám sát quản lý thuế.
  • d) Thuộc mức không tuân thủ pháp luật thuế theo quy định tại Điều 10 Thông tư này; hoặc không giải trình, bổ sung thông tin, hay có giải trình, bổ sung thông tin nhưng không đầy đủ theo yêu cầu và thời hạn tại thông báo bằng văn bản của cơ quan thuế.

Chỉ cần rơi vào một trong bốn dấu hiệu trên là đủ căn cứ để cơ quan thuế đưa người nộp thuế vào diện theo dõi. Theo khoản 2 Điều 9, cơ quan thuế các cấp có trách nhiệm theo dõi, giám sát và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

Cục Thuế hướng dẫn việc thu thập, phân tích thông tin và xác định trọng điểm giám sát

Khoản 3 Điều 9 Thông tư 94/2026/TT-BTC giao Cục Thuế hướng dẫn cụ thể việc thu thập thông tin, phân tích thông tin, xác định trọng điểm giám sát, biện pháp giám sát và thời hạn giám sát phù hợp với quy định của pháp luật trong từng thời kỳ. Nói cách khác, khung pháp lý đặt ra nguyên tắc và tiêu chí, còn cách triển khai chi tiết được điều chỉnh theo từng giai đoạn quản lý.

Điểm đáng lưu ý với người nộp thuế nằm ở chính điểm d khoản 1 Điều 9: việc không giải trình, hoặc giải trình không đầy đủ theo yêu cầu và thời hạn ghi trong thông báo bằng văn bản của cơ quan thuế, tự nó đã là một dấu hiệu để bị giám sát trọng điểm. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp không vướng vào giao dịch đáng ngờ mà vướng ở bước phản hồi thông tin này.

Bởi vậy, khi nhận được văn bản đề nghị giải trình hay bổ sung hồ sơ, doanh nghiệp nên phản hồi đúng hạn và đầy đủ, kể cả khi cần xin gia hạn thì cũng phải xin trước khi hết thời hạn nêu trong thông báo.

Áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý sử dụng hóa đơn, chứng từ theo Thông tư 94/2026 (Nguồn: https://m.thuvienphapluat.vn/van-ban/Thue-Phi-Le-Phi/Thong-tu-94-2026-TT-BTC-quan-ly-tuan-thu-quan-ly-rui-ro-trong-quan-ly-thue-713729.aspx)

Theo khoản 1 Điều 13 Thông tư 94/2026/TT-BTC, mức độ rủi ro đối với người nộp thuế trong các nghiệp vụ quản lý thuế được phân loại theo một trong các mức sau:

  • Rủi ro cao;
  • Rủi ro trung bình;
  • Rủi ro thấp.

Căn cứ kết quả phân tích rủi ro theo từng bộ chỉ số tiêu chí để phân loại mức rủi ro của người nộp thuế trong quản lý sử dụng hóa đơn, chứng từ, khoản 1 Điều 20 Thông tư 94/2026/TT-BTC quy định cơ quan thuế áp dụng các biện pháp quản lý như sau:

  • Rủi ro cao: áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp, bao gồm không chấp nhận đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử, ngừng sử dụng hóa đơn điện tử hoặc thực hiện các biện pháp quản lý hóa đơn khác theo quy định.
  • Rủi ro trung bình và rủi ro thấp: thực hiện lựa chọn mẫu để rà soát, kiểm tra, xử lý theo quy định; tăng cường theo dõi, phân tích dữ liệu hóa đơn, chứng từ nhằm kịp thời phát hiện, ngăn ngừa rủi ro phát sinh; thực hiện hỗ trợ, hướng dẫn người nộp thuế.

Cần nhấn mạnh rằng Thông tư không tách riêng biện pháp cho mức rủi ro trung bình và mức rủi ro thấp, mà gộp chung hai mức này vào cùng một nhóm biện pháp quản lý.

Bảng tóm tắt biện pháp quản lý theo từng mức độ rủi ro

Mức độ rủi ro Biện pháp quản lý theo khoản 1 Điều 20 Thông tư 94/2026/TT-BTC
Rủi ro cao Không chấp nhận đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử; ngừng sử dụng hóa đơn điện tử; hoặc thực hiện các biện pháp quản lý hóa đơn khác theo quy định.
Rủi ro trung bình và rủi ro thấp Lựa chọn mẫu để rà soát, kiểm tra, xử lý theo quy định; tăng cường theo dõi, phân tích dữ liệu hóa đơn, chứng từ nhằm kịp thời phát hiện, ngăn ngừa rủi ro phát sinh; hỗ trợ, hướng dẫn người nộp thuế.

Nguồn thu thập thông tin phục vụ quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro trong quản lý thuế

Theo khoản 2 Điều 6 Thông tư 94/2026/TT-BTC, thông tin phục vụ quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro trong quản lý thuế được thu thập từ các nguồn sau:

  • Hệ thống thông tin nội bộ của cơ quan thuế.
  • Trao đổi thông tin với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan.
  • Trao đổi thông tin với cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài.
  • Tiếp nhận thông tin từ các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân theo quy định.
  • Thông tin thu thập trong quá trình quản lý thuế, từ hoạt động của người nộp thuế.
  • Kết quả khảo sát, đánh giá, điều tra dư luận xã hội của các tổ chức có uy tín trong và ngoài nước.
  • Mua thông tin theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Tiếp nhận thông tin từ nước ngoài, tổ chức quốc tế theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
  • Các nguồn thông tin khác theo quy định pháp luật.

Việc đa dạng hóa nguồn thông tin cho thấy cơ quan thuế không chỉ dựa vào tờ khai, mà còn đối chiếu chéo dữ liệu ngân hàng, dữ liệu từ cơ quan nhà nước và cả thông tin quốc tế để đánh giá mức độ tuân thủ của người nộp thuế.

Câu hỏi thường gặp

Người nộp thuế có giao dịch ngân hàng bất thường nhưng chưa bị khởi tố, có phải chịu giám sát trọng điểm không?

Có. Theo điểm a khoản 1 Điều 9 Thông tư 94/2026/TT-BTC, điều kiện là giao dịch qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và có liên quan đến trốn thuế, gian lận thuế. Việc bị khởi tố là một dấu hiệu độc lập tại điểm b, không phải điều kiện bắt buộc của điểm a.

Trong trường hợp rủi ro cao, cơ quan thuế có thể ngừng sử dụng hóa đơn điện tử ngay không?

Có. Khoản 1 Điều 20 Thông tư 94/2026/TT-BTC quy định với mức rủi ro cao, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp, trong đó có không chấp nhận đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử, ngừng sử dụng hóa đơn điện tử hoặc thực hiện các biện pháp quản lý hóa đơn khác theo quy định.

Ngoài giao dịch ngân hàng bất thường, còn dấu hiệu nào khác dẫn tới giám sát trọng điểm?

Còn ba nhóm dấu hiệu tại điểm b, c, d khoản 1 Điều 9: bị khởi tố về hành vi vi phạm về thuế, hóa đơn, chứng từ; có dấu hiệu rủi ro cao về thuế thuộc chuyên đề trọng điểm hoặc qua thu thập thông tin từ công tác quản lý của cơ quan thuế; và thuộc mức không tuân thủ pháp luật thuế theo Điều 10 hoặc không giải trình, bổ sung thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế.

Tóm lại

Người nộp thuế có giao dịch ngân hàng bất thường, có dấu hiệu đáng ngờ theo quy định phòng, chống rửa tiền và liên quan đến trốn thuế, gian lận thuế, chắc chắn thuộc diện kiểm soát, giám sát trọng điểm theo Điều 9 Thông tư 94/2026/TT-BTC. Song song với tiêu chí giao dịch ngân hàng, Thông tư còn ba nhóm dấu hiệu khác về khởi tố, rủi ro cao theo chuyên đề và mức không tuân thủ. Việc chủ động rà soát dòng tiền, trả lời đúng hạn mọi thông báo của cơ quan thuế và theo dõi mức độ rủi ro của mình trong quản lý hóa đơn, chứng từ là cách hiệu quả nhất để doanh nghiệp trên địa bàn Long Biên, Hà Nội tránh bị đưa vào diện giám sát trọng điểm ngoài ý muốn.

Đội ngũ ANC Việt Nam
Chuyên viên Kế toán Thuế

Chứng chỉ hành nghề Kế toán
Chứng chỉ Đại lý Thuế

Với 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thuế và kế toán, tôi đã tư vấn cho hàng nghìn doanh nghiệp về các vấn đề thuế, kế toán và tuân thủ pháp luật

LinkedIn

Để lại một bình luận