Đã nghỉ việc, công ty vẫn khấu trừ thuế TNCN? Quy định mới từ Nghị định 253/2026/NĐ-CP làm rõ nghĩa vụ
- Cụ thể:
Đối với mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên: Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân - Đối với mức chi trả dưới 05 triệu đồng/lần: Tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu
- Vì khoản thu nhập này được chi trả sau khi bà Mai đã chấm dứt hợp đồng lao động và có giá trị từ 05 triệu đồng/lần trở lên, Công ty X có nghĩa vụ phải khấu trừ 10% thuế TNCN trước khi thanh toán
- 000 đồng Tỷ lệ khấu trừ thuế TNCN: 10% Số thuế TNCN phải khấu trừ: 7
- 000 đồng × 10% = 750
Từ năm 2026, một câu hỏi thường trực trong cộng đồng người lao động và doanh nghiệp tại Việt Nam là: Liệu công ty có còn nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản chi trả cho nhân viên đã chấm dứt hợp đồng lao động? Câu trả lời là CÓ, và quy định này đã được làm rõ chi tiết tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ năm 2026. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu người lao động và hàng trăm nghìn doanh nghiệp trên cả nước, đòi hỏi sự cập nhật và tuân thủ nghiêm ngặt, đặc biệt là các doanh nghiệp tại khu vực Long Biên, Hà Nội.

Theo đó, các tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn phải thực hiện khấu trừ thuế TNCN đối với các khoản tiền lương, tiền công, tiền thù lao hoặc các khoản chi khác cho người lao động đã nghỉ việc, tùy thuộc vào mức chi trả. Quy định mới này không chỉ làm rõ trách nhiệm của bên chi trả mà còn giúp người lao động hiểu rõ hơn về nghĩa vụ thuế của mình, đặc biệt trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng linh hoạt.
Chi tiết quy định về khấu trừ thuế TNCN cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động
Để hiểu rõ hơn về nghĩa vụ khấu trừ thuế TNCN trong trường hợp người lao động đã chấm dứt hợp đồng, chúng ta cần xem xét cụ thể các điều khoản trong Nghị định 253/2026/NĐ-CP, một văn bản pháp lý quan trọng định hình chính sách thuế TNCN tại Việt Nam.
Quy định về khấu trừ thuế đối với thu nhập sau khi nghỉ việc
Khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định rõ ràng về việc khấu trừ thuế đối với các khoản chi trả cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng. Đặc biệt, điều khoản này bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động. Cụ thể:
- Đối với mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên: Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Đây là quy định bắt buộc, không phụ thuộc vào yêu cầu của người nhận thu nhập.
- Đối với mức chi trả dưới 05 triệu đồng/lần: Tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu. Trong trường hợp này, việc khấu trừ không phải là bắt buộc mà phụ thuộc vào nguyện vọng của người lao động.
Điều này khẳng định rằng việc người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động không làm cho khoản tiền được trả sau đó đương nhiên được miễn thuế. Quy định hiện hành đã ghi nhận rõ trường hợp “trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động” để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quản lý thuế.
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế
Bên cạnh quy định về khấu trừ, việc xác định thời điểm phát sinh thu nhập cũng rất quan trọng. Khoản 3 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP nêu rõ:
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm người sử dụng lao động trả tiền lương, tiền công cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập, kể cả các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền, các khoản trợ cấp, phụ cấp và thu nhập khác quy định tại Điều 8 của Nghị định này trong kỳ tính thuế.
Điều này có nghĩa là, dù khoản tiền đó là của kỳ làm việc trước khi nghỉ, nhưng nếu được chi trả sau thời điểm chấm dứt hợp đồng, nó vẫn sẽ được xem xét theo quy định về khấu trừ cho người đã nghỉ việc tại thời điểm chi trả.
Ví dụ minh họa về khấu trừ thuế TNCN cho người đã nghỉ việc
Để dễ hình dung, hãy xem xét ví dụ sau:
Bà Mai đã nghỉ việc tại Công ty X từ ngày 31/12/2026. Đến tháng 01/2027, Công ty X thực hiện thanh toán khoản tiền lương còn nợ của tháng 12/2026 cho bà Mai với tổng số tiền là 7.500.000 đồng. Vì khoản thu nhập này được chi trả sau khi bà Mai đã chấm dứt hợp đồng lao động và có giá trị từ 05 triệu đồng/lần trở lên, Công ty X có nghĩa vụ phải khấu trừ 10% thuế TNCN trước khi thanh toán.
- Số tiền thu nhập chịu thuế: 7.500.000 đồng
- Tỷ lệ khấu trừ thuế TNCN: 10%
- Số thuế TNCN phải khấu trừ: 7.500.000 đồng × 10% = 750.000 đồng
- Số tiền thực nhận của bà Mai: 7.500.000 đồng – 750.000 đồng = 6.750.000 đồng
Công ty X sẽ phải nộp 750.000 đồng này vào ngân sách nhà nước và cung cấp chứng từ khấu trừ thuế cho bà Mai.
Cập nhật nguyên tắc giảm trừ gia cảnh cho bản thân và người phụ thuộc theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP
Bên cạnh các quy định về khấu trừ thuế, Nghị định 253/2026/NĐ-CP cũng cập nhật các nguyên tắc quan trọng về giảm trừ gia cảnh, giúp người nộp thuế giảm bớt gánh nặng thuế TNCN. Việc hiểu rõ các nguyên tắc này là cần thiết cho cả cá nhân và doanh nghiệp khi thực hiện kê khai và quyết toán thuế.
Nguyên tắc giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế
Khoản 1 Điều 48 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về nguyên tắc giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế TNCN như sau:
- Lựa chọn nơi giảm trừ: Người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công thì tại một thời điểm người nộp thuế lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi trả thu nhập (được tính đủ theo tháng). Điều này giúp tránh việc giảm trừ trùng lặp và đảm bảo tính chính xác.
- Giảm trừ đủ 12 tháng: Trường hợp trong năm tính thuế cá nhân chưa giảm trừ cho bản thân hoặc giảm trừ cho bản thân chưa đủ 12 tháng thì được giảm trừ đủ 12 tháng khi thực hiện quyết toán thuế theo quy định. Đây là một điểm có lợi cho người lao động, đặc biệt là những người có sự thay đổi công việc trong năm.
- Đối với người nước ngoài: Cá nhân cư trú tại Việt Nam được tính giảm trừ cho bản thân từ tháng một hàng năm hoặc từ tháng đến Việt Nam trong trường hợp cá nhân lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồng lao động và rời Việt Nam trong năm tính thuế (được tính đủ theo tháng).
Nguyên tắc giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc
Khoản 2 Điều 48 Nghị định 253/2026/NĐ-CP cũng quy định chi tiết về nguyên tắc giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, giúp người nộp thuế tối ưu hóa nghĩa vụ thuế của mình:
- Điều kiện đăng ký: Người nộp thuế được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu đã đăng ký thuế và đăng ký người phụ thuộc. Thời hạn đăng ký người phụ thuộc cùng với hồ sơ chứng minh người phụ thuộc là trước ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế và thực hiện ổn định cho các năm sau nếu không có thay đổi.
- Thời điểm tính giảm trừ: Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng.
- Tạm tính giảm trừ: Khi người nộp thuế đăng ký giảm trừ cho người phụ thuộc sẽ được tạm tính giảm trừ gia cảnh trong năm kể từ khi đăng ký người phụ thuộc (được tính đủ theo tháng).
Lưu ý: Quy định cũng đề cập đến trường hợp nhiều người nộp thuế có cùng người phụ thuộc, nhưng chi tiết cụ thể cần tham khảo thêm văn bản pháp luật để đảm bảo tuân thủ đúng đắn.
Kết luận
Việc khấu trừ thuế TNCN đối với các khoản chi trả cho người lao động đã nghỉ việc là một quy định rõ ràng và bắt buộc theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Các doanh nghiệp, đặc biệt là những đơn vị hoạt động tại Hà Nội, cần nắm vững các điều khoản này để đảm bảo tuân thủ pháp luật thuế, tránh các sai sót không đáng có. Đồng thời, người lao động cũng cần hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động trong việc quyết toán thuế cá nhân. Việc cập nhật liên tục các quy định pháp luật thuế là chìa khóa để duy trì sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính cá nhân và doanh nghiệp.